Mỗi đêm sau khi đóng cửa, tôi thường ngồi sau quầy thu ngân, lấy chiếc vỏ đạn đó ra ngắm nghía.
Đến tháng thứ tư, Tần Quốc Đống ghé qua một lần.
Không phải để đòi tiền.
Ông ta đứng trước cửa quán, ngập ngừng hồi lâu mới bước vào, ngồi xuống và gọi một bát mì.
Ăn được hai miếng, ông ta nói: “Tiền nợ bên chỗ Mã Thủ Minh, bố đang trả rồi. Phải bán căn nhà đi, Bằng Phi cũng đi làm thuê rồi.”
Tôi nhìn ông ta, không nói gì.
“Tần Lộc… năm đó lúc bố ra đi, quả thực làm không đúng.”
Ông ta cúi gằm mặt, không dám nhìn tôi.
“Bố không mong con tha thứ. Nhưng mộ của mẹ con, bố đã đến thăm rồi.”
Ông ta đứng dậy, đặt 50 tệ lên bàn rồi rời đi.
Bát mì vẫn chưa ăn xong.
Ngày thứ 17 của tháng thứ năm, 11 giờ đêm, tôi đang chuẩn bị tắt đèn lên lầu.
Cửa kính vang lên ba tiếng gõ.
Tim tôi bỗng chốc đập thình thịch.
Qua lớp cửa kính, bên ngoài có một người đang đứng. Áo phông đen, quần đen, bờ vai rộng như một bức tường.
Nhưng anh đã gầy hơn so với 5 tháng trước. Gò má nhô cao hơn, đường nét quai hàm càng thêm góc cạnh. Trên cánh tay trái quấn một thứ gì đó, cộm lên một cục dưới lớp tay áo.
Là băng gạc.
Tôi mở cửa.
Anh đứng ở ngưỡng cửa, tay xách chiếc túi rằn ri, tư thế giống hệt như lúc đứng ở cửa ra ga tàu 5 tháng trước.
Tôi không nói gì.
Anh cũng im lặng.
Anh nhìn tôi, trong ánh mắt có sự mệt mỏi, có sự nhẹ nhõm, và có cả một cảm xúc gì đó rất đỗi nặng nề.
Rồi anh thốt ra hai chữ.
“Anh về rồi.”
Tôi kéo cửa mở toang ra, nghiêng người để anh bước vào.
Vừa vào nhà, anh đặt túi hành lý xuống đất, đi thẳng vào bếp.
Tôi nghe thấy tiếng vòi nước chảy, tiếng xoong chảo va chạm, tiếng bật bếp ga đánh lửa.
Năm phút sau, anh bưng ra một bát mì Dương Xuân.
Giống y hệt bát mì đầu tiên anh nấu cách đây 5 tháng.
Anh đặt bát mì trước mặt tôi, rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện.
“Ăn đi.”
Tôi cầm đũa lên, ăn thử một miếng.
Hương vị y hệt.
Tôi ngẩng đầu nhìn anh.
“Tay anh bị sao vậy?”
“Trầy xước nhẹ.”
“Trầy xước mà phải quấn băng gạc sao?”
Anh lại im lặng, cái biểu cảm “đừng hỏi chuyện này” lại hiện ra.
Tôi quyết định không gặng hỏi nữa.
“Cái đĩa mẻ góc trong quán em thay rồi.”
“Anh thấy rồi.”
“Bột mì cũng đổi loại khác rồi.”
“Ừ, anh ngửi ra rồi.”
“Thím Trương lấy hàng theo chỗ anh giới thiệu, giờ ngày nào thím ấy cũng khen anh.”
Khóe miệng anh cuối cùng cũng giật giật.
Một nụ cười cực kỳ kiềm chế.
10
Ngày thứ hai sau khi Hạ Chinh trở về, trước cửa quán đỗ hai chiếc xe Jeep quân sự.
Lão Hứa đầu trọc dẫn theo bảy tám người mặc thường phục, ào ào kéo nhau vào quán.
“Chào chị dâu! Cho tụi em mười bát mì!”
Thím Trương từ tiệm đồ kho kế bên thò đầu sang ngó, thấy cái trận thế này thì vỗ đùi đánh đét: “Rốt cuộc quán mì của cháu có phải là nhà ăn quân đội không thế?”
Trong lúc đợi nấu mì, lão Hứa sán lại gần quầy thì thầm với tôi: “Chị dâu đừng thấy Tiểu đoàn trưởng bình thường lạnh lùng thế nhé, lúc ở trên núi trong ốp lưng điện thoại của sếp lúc nào cũng kẹp ảnh chị đấy.”
“Ảnh gì cơ?”
Lão Hứa cười hì hì, lấy điện thoại ra lướt lướt, tìm một bức ảnh chụp lén cho tôi xem — ốp lưng điện thoại của Hạ Chinh là loại ốp silicon dẻo trong suốt, bên trong đúng là có kẹp một bức ảnh cỡ nhỏ.
Nhưng tấm ảnh đó không phải tôi.
Là thím Trương.
Chính là bức ảnh thím Trương đang chặt cổ vịt chụp thẳng mặt mà tôi đã gửi cho anh 3 năm trước.
Tôi dán mắt vào bức ảnh đó mất 5 giây, rồi bật cười.
Cười đến mức gục cả mặt xuống quầy.
Lão Hứa ngơ ngác chả hiểu gì: “Chị dâu cười gì thế?”
Hạ Chinh từ trong bếp đi ra, liếc mắt nhìn bức ảnh trên điện thoại lão Hứa, vươn tay giật phăng cái điện thoại.
Rồi anh mặt không đổi sắc buông một câu: “Hứa Đức Thắng, bản báo cáo xin huấn luyện tăng cường của cậu về đơn vị tôi sẽ ký duyệt.”

