Mặt lão Hứa tức thì trắng bệch: “Thủ trưởng em biết lỗi rồi ạ!”
Hôm đó quán phục vụ tổng cộng hơn 30 bát mì. Đám chiến hữu của Hạ Chinh ăn xong, trước khi đi ai nấy đều đứng nghiêm chào tôi, gọi một tiếng chị dâu. Người cuối cùng ra khỏi cửa còn ngoái lại liếc Hạ Chinh một cái, nháy nháy mắt.
Hạ Chinh lườm cậu ta một cái.
Cửa đóng lại, quán mì cuối cùng cũng yên tĩnh.
Tôi ngồi sau quầy thu ngân, anh ngồi đối diện, giữa hai chúng tôi cách nhau một bát mì ăn dở.
“Hạ Chinh.”
“Ừ.”
“Tấm ảnh trong ốp lưng điện thoại của anh…”
Tai anh đỏ lựng lên.
Đây là lần đầu tiên tôi thấy người đàn ông này đỏ tai. Trước đây dù là bóp nát cốc sứ, trèo tường nhà người ta, hay đối diện với gã giang hồ Mã Thủ Minh, anh đến cái nhíu mày cũng không có.
Bây giờ chỉ vì một câu nói của tôi mà đỏ rần cả tai.
“Đó là… ảnh liên lạc.”
“Ảnh liên lạc á?”
“Dùng để nhận diện đối tượng.”
“Anh lấy ảnh thím Trương để nhận diện đối tượng á?”
Anh im lặng mất ba giây.
“Lúc đó anh thừa biết đó không phải em thật, nhưng đó là bức ảnh đầu tiên em gửi cho anh. Anh đã lưu lại. Sau này có ảnh thật của em rồi, nhưng anh không thay đổi.”
“Tại sao?”
“Quen rồi.”
Nhìn đôi vành tai đỏ bừng của anh, tôi chợt thấy mọi chuyện trong suốt ba năm qua bỗng trở nên sáng tỏ vô cùng.
Người đàn ông này ngay từ ngày đầu tiên đã biết tôi gửi ảnh giả. Ngay từ ngày đầu tiên đã nhìn thấy tôi thật sự qua hình phản chiếu trên tủ đông. Nhưng anh không vạch trần, không nhắc nhở, thậm chí còn cố ý duy trì lời nói dối ấy, để tôi giữ được cái mà tôi cho là cảm giác an toàn trong mối quan hệ này.
Anh giữ khư khư bức ảnh của thím Trương suốt ba năm.
Không phải vì anh nghĩ đó là tôi.
Mà bởi vì đó là thứ tôi đưa cho anh.
Là phần quà đầu tiên.
Đêm đó sau khi đóng cửa, Hạ Chinh đứng trước cửa quán, nhìn ngó hai bên đầu đường.
Ánh đèn đường kéo dài chiếc bóng của anh, chồng chéo lên bảng hiệu của quán mì.
“Tần Lộc.”
“Vâng.”
“Anh đã viết báo cáo gửi cấp trên rồi.”
“Báo cáo gì cơ?”
“Đơn xin điều động nơi đóng quân. Ở Hạc Thành có một căn cứ huấn luyện đang thiếu người, anh xin chuyển công tác qua đó rồi. Thời gian đi lại mất khoảng 40 phút.”
Tay tôi siết chặt khung cửa.
“Tuy không thể ngày nào cũng về, nhưng mỗi tuần ít nhất anh cũng về được hai ngày.”
Anh quay người lại, nhìn tôi.
Ánh đèn đường chiếu từ sau lưng anh tới, gương mặt chìm trong bóng râm không nhìn rõ biểu cảm, nhưng giọng nói thì vô cùng trầm ổn.
“Em nấu mì không ngon bằng anh. Cái quán mì này thiếu anh không được.”
Tôi dùng hết sức ném cái giẻ lau vào người anh.
Anh chụp lấy, gấp gọn lại, đặt lên chiếc bàn bên cạnh.
Rồi anh làm một việc mà suốt mười ngày nay anh chưa từng làm.
Anh tiến lên một bước, vươn tay ra, kéo tôi vào lòng.
Lồng ngực anh rất cứng, vững chãi như một tấm thép. Phần băng gạc trên cánh tay trái vô tình cọ vào vai tôi, anh khẽ rít lên một tiếng.
“Đau à?”
“Không đau.”
“Nói dối.”
“Ừ, hơi đau một chút.”
Tôi áp đầu vào lồng ngực anh, lắng nghe nhịp tim của anh.
Rất đầm, rất mạnh mẽ.
Giống hệt như con người anh vậy.
Đèn trong quán vẫn sáng. Tiệm đồ kho của thím Trương đã đóng cửa từ lâu, cả con phố chỉ còn đúng một ngọn đèn này.
Từ xa vẳng lại tiếng dế kêu của khu làng đại học sau khi đã tắt đèn đi ngủ.
Cằm Hạ Chinh tì lên đỉnh đầu tôi, giọng nói phát ra từ khoang ngực, có chút nghèn nghẹt.
“Ngày mai vẫn mở bán chứ?”
“Bán chứ, quán mì làm gì có ngày nghỉ.”
“Vậy sáng mai 4 rưỡi anh dậy nhào bột.”
“Anh đừng có bày vẽ sớm thế, 5 rưỡi là được rồi.”
“4 rưỡi.”
Tôi chẳng buồn cãi nhau với anh nữa.
Con người này thích 4 rưỡi dậy thì cứ để anh dậy, dù sao thì đồng hồ sinh học của anh còn chuẩn hơn cả đồng hồ báo thức.

