Đêm đầu tiên, Mười Một chui tọt xuống gầm giường không chịu ra. Tôi để nước và hạt ăn cho mèo cạnh giường, tắt đèn đi ngủ. Nửa đêm, tôi nghe thấy tiếng lạch cạch nó bò ra ăn. Sáng hôm sau mở mắt, thấy nó đang ngồi xổm cạnh gối, nghiêng đầu nhìn tôi.
Tôi đưa tay xoa đầu nó. Nó không né.
Bây giờ Mười Một đã béo lên một vòng, bụng tròn xoe. Sáng nào cũng đúng sáu giờ là nó giẫm lên mặt gọi tôi dậy. Tôi không chịu dậy, nó liền liếm mí mắt tôi, cái lưỡi có gai ráp ráp. Tôi đành lồm cồm bò dậy đổ hạt cho nó ăn. Xong xuôi, nó lăn ra ngủ tiếp, còn tôi phải lóc cóc đi làm.
Cuối tuần, tôi bắt đầu đi học vẽ sơn dầu. Đăng ký một lớp học ở khu 798, cứ chiều thứ Bảy là đến lớp. Thầy giáo là một người đàn ông để tóc dài, nói năng nhỏ nhẹ, lúc nhận xét tranh chẳng bao giờ chê xấu thẳng thừng, mà hay nói “Chỗ này có thể cân nhắc lại một chút”.
Bức tranh đầu tiên tôi vẽ là chậu cây trầu bà trên bệ cửa sổ. Vẽ cả một buổi chiều, lá xiên lá xẹo. Thầy giáo nhìn nửa ngày mới thốt lên được một câu: “Tranh của em… khá là có phong cách riêng.”
Tôi tự trào: “Tức là vẽ xấu chứ gì ạ.”
Thầy cười: “Tập vẽ nhiều sẽ tiến bộ thôi.”
Bây giờ tôi đã vẽ được mười mấy bức. Treo hết lên tường phòng khách, nhìn từ bức đầu tiên đến bức mới nhất, thấy rõ sự tiến bộ. Bức mới nhất tôi vẽ là Mười Một, lúc nó đang rúc vào chân tôi ngủ. Hai mắt nhắm tịt, râu ria chĩa ra từng sợi.
Có lần, một bạn học cùng lớp vẽ sơn dầu hỏi tôi: “Cô sống một mình à?”
“Ừ.”
“Không thấy buồn chán sao?”
Tôi ngẫm nghĩ một lúc: “Không chán. Có nhiều việc để làm lắm.”
Đúng là có quá nhiều việc để làm. Đi làm, tan sở, nấu ăn, cho mèo ăn, tưới hoa, vẽ tranh. Cuối tuần đi siêu thị mua thức ăn, cứ thong thả đẩy xe dạo quanh, thấy món gì thích thì mua. Trước kia ở Thượng Hải, đi chợ búa luôn phải đau đầu suy nghĩ xem anh ta thích ăn gì. Giờ thì không cần phải nghĩ nữa. Thích ăn gì thì cứ mua nấy.
Có lần tôi mua một trái sầu riêng, về nhà bóc ra ăn sạch một mình. Mười Một bị mùi sầu riêng hun cho hắt xì hơi liên tục.
Cũng có lần tôi mua một ôm hoa cúc baby thật lớn, cắm vào bình hoa trên bàn ăn. Chiếc bình hoa trước kia cũng là do tôi mua, tôi vứt lại Thượng Hải rồi. Đây là bình hoa tôi mới mua, màu trắng, thấp lùn, trông tròn xoe mập mạp.
Căn nhà từng chút từng chút được lấp đầy. Không phải được lấp đầy bằng “đồ của hai người”. Mà là những món đồ tự tay tôi chọn, tự tay mua, tự tay mang về.
Cây trầu bà Nam Mỹ mọc thêm lá non, màu xanh non mơn mởn, lá còn cuộn tròn lại như một nắm đấm nhỏ xíu. Sáng nào tôi cũng phải ngó qua một cái, xem nó đã nở bung ra được bao nhiêu rồi.
Mười Một thích nằm dài trên chiếc ghế trắng ngoài ban công để tắm nắng. Chiếc ghế đó tôi mang từ nhà cũ qua, ngồi trên đó đọc sách là chuẩn bài. Giờ thì bị con mèo chiếm mất rồi.
Thỉnh thoảng vào những buổi chiều cuối tuần, tôi ngồi bệt dưới sàn ban công, tựa lưng vào tường, đặt cuốn sách lên đùi, Mười Một nằm ngủ say sưa bên cạnh. Ánh nắng xuyên qua cửa sổ chiếu vào người ấm áp, rải một lớp bụi vàng rực rỡ lên những trang sách.
Đọc mãi rồi thiếp đi lúc nào không hay.
Lúc tỉnh dậy mặt trời đã ngả về Tây, ánh nắng chuyển từ màu vàng sang màu cam. Mười Một vẫn đang ngủ, nhịp thở phập phồng đều đặn.
Những buổi chiều như thế này, trước kia chưa bao giờ có. Trước đây cuối tuần nếu không phải ở nhà đợi anh ta, thì cũng là loay hoay dọn dẹp mớ hỗn độn anh ta bày ra. Hoặc cứ lủi thủi một mình, chẳng biết làm gì, chỉ đành cứ ngồi ngây ra đó.
Bây giờ thì khác rồi. Không phải kiểu “có gì đó thay đổi” một cách mông lung. Mà là thực sự khác rồi. Khác một cách rất cụ thể — tôi đã có một căn nhà hướng Nam, một con mèo tên Mười Một, một chậu trầu bà Nam Mỹ, một chiếc ghế tựa màu trắng. Chiều cuối tuần có thể ngủ quên trên ban công

