Số tiền thưởng mà tôi từng từ chối, cuối cùng vẫn đến tay tôi theo một cách khác.
Tôi dùng nó cộng với toàn bộ tiền tiết kiệm của bản thân để thành lập một quỹ khuyến học nhỏ.
Tên của quỹ hội gọi là “Hoa Hướng Dương”.
Nó chuyên tài trợ cho những đứa trẻ giống như học trò của tôi, sống ở những vùng sâu vùng xa, cũng khát khao kiến thức, khát khao được nhìn thấy thế giới ngoài núi như vậy.
Từ một giáo viên vùng cao, tôi đã trở thành một người bôn ba vì quỹ khuyến học.
Tôi đã đến thăm nhiều vùng sâu vùng xa giống như thôn Hướng Dương, mang sách vở và văn cụ đến cho các trường học ở đó, nộp đơn xin học bổng cho những đứa trẻ nghèo.
Lục Xuyên thỉnh thoảng sẽ nghỉ phép đến thăm tôi, chúng tôi đã trở thành những người bạn rất tốt.
Có một lần anh ấy kể với tôi rằng, các nhà địa chất và nhà vật lý đã nghiên cứu sâu về hầm mỏ đó, phát hiện ra loại quặng đá đặc biệt kia thực sự chứa một nguyên tố phóng xạ chưa biết, có thể ảnh hưởng và ghi lại từ trường sinh học một cách cực lớn trong một phạm vi nhất định.
Anh ấy nói, trải nghiệm của tôi có lẽ vào một ngày nào đó trong tương lai có thể được giải thích bằng khoa học.
Tôi đối với điều này chỉ cười xòa.
Chân tướng là gì, khoa học giải thích thế nào, đối với tôi mà nói đã không còn quan trọng nữa rồi.
Quan trọng là, tôi đã thực sự sở hữu quãng thời gian đó.
Trong một ngôi trường tiểu học vùng cao mới, tôi nhìn lũ trẻ chạy nhảy trên sân trường, từng gương mặt cười rạng rỡ, thuần khiết như tuyết trên đỉnh núi.
Tôi dường như nhìn thấy hình bóng của Yaya, của Thạch Đầu, của Hổ Tử trên người các em.
Tận sâu trong tim tôi, vết thương kéo dài tám năm để lại vì sự ra đi đột ngột của em trai, trong quá trình che chở cho học trò thôn Hướng Dương và tiếp tục nối dài sự che chở này, đã hoàn toàn được chữa lành.
Tôi không còn là kẻ đào ngũ khỏi thành phố để tự đày ải mình nữa.
Tôi đã tìm thấy ý nghĩa thực sự của đời mình.
Tôi biết, tám năm đó không phải ảo giác, không phải ác mộng.
Đó là quãng thời gian nặng nề nhất, nhưng cũng trân quý nhất trong cuộc đời tôi.
12
Một ngày vài năm sau đó, tôi nhận được một kiện hàng từ trấn Thanh Khê.
Mục người gửi để trống.
Tôi nghi hoặc mở kiện hàng ra, bên trong là một chiếc túi bưu tá màu xanh cũ kỹ, đã bạc màu và một lá thư.
Nét chữ trong thư run rẩy.
Tôi nhận ra rồi, đó là chữ của “lão bưu tá”.
Lá thư do con trai ông viết thay, anh ấy nói lão bưu tá đã qua đời một tháng trước, trước khi lâm chung đã dặn dò anh nhất định phải gửi những thứ này cho tôi.
Trong thư đã hé lộ một bí mật cuối cùng, cũng là bí mật ấm áp nhất.
Hóa ra, lão bưu tá chính là người duy nhất sống sót của thôn Hướng Dương năm đó.
Vào ngày tai nạn mỏ, hay nói cách khác là vụ thảm sát xảy ra, ông ấy tình cờ được trưởng thôn phái xuống núi để đưa thư cho người thân ở xa, nhờ đó mà thoát được một kiếp nạn.
Nhưng sau khi trở về, thứ ông thấy là một biển lửa và đống đổ nát.
Ông ấy sợ đến mất mật, từ đó ẩn tính mai danh, sống trong nỗi cắn rứt và sợ hãi vô tận, không dám nói ra chân tướng với bất kỳ ai.
Điều ông có thể làm chỉ là hằng năm lén lút xuống chân núi tế bái, đốt một xấp tiền giấy cho những người đồng hương đã khuất.
Tám năm trước, ông phát hiện tôi đã lên núi, hơn nữa còn bình an vô sự ở lại đó.
Ông đã bí mật quan sát rất lâu, phát hiện tôi sống trên núi rất tốt, thậm chí có thể nhận được các kiện hàng ông đặt ở miếu Sơn Thần.
Ông tin rằng chính linh hồn của những người đồng hương trên trời có linh thiêng đã đón nhận cô gái lương thiện là tôi.
Thế là, ông âm thầm sắm vai “người bưu tá”, canh giữ bí mật không ai hay biết này, bất kể mưa nắng, truyền đi sợi dây liên kết duy nhất cho tôi trên núi và thế giới dưới núi.
Ông ấy nói trong thư rằng ông cảm ơn tôi.

