Nhiều năm sau nghĩ lại tôi mới hiểu, anh thật sự không yêu tôi.

Cho nên anh không muốn hao tâm tốn sức.

Một con châu chấu chỉ cần một phút là bện xong, còn dạy tôi đọc hết một cuốn sách thì chẳng biết phải tốn bao nhiêu ngày.

Chỉ là về sau, một mình tôi đã đọc rất rất nhiều sách, mới phát hiện ra… thật ra cũng chẳng khó đến vậy.

Vì thế kiếp này, tôi sẽ không còn quý cái châu chấu của anh nữa.

Thứ tôi muốn học, tôi sẽ tự học.

Thấy tôi vẫn không nhận, Kỷ Thừa Tự có phần bất ngờ.

Trong im lặng, bên ngoài vang lên tiếng còi xe.

Người nhà họ Kỷ tới rồi.

Kỷ Thừa Tự thở dài nói: “Đưa đây.”

Tôi sững người, hỏi: “Cái gì?”

5

Kỷ Thừa Tự nói: “Túi thơm.”

“Gối thì khó mang theo, nhưng túi thơm còn có thể mang hai cái.”

“Anh biết em làm nhiều, Tiểu Đào dùng không hết đâu.”

Tôi chợt hiểu ra.

Hóa ra anh tưởng tôi chỉ đang cứng miệng.

Tôi buồn cười lắc đầu: “Không còn nữa, một cái cũng không còn.”

“Những cái dư tôi bán hết rồi.”

Tay nghề thêu của tôi rất rất tốt.

Tổ tiên bên ngoại tôi từng có một bà thợ thêu rất nổi tiếng, khi bà còn sống đã truyền nghề cho tôi.

Những chiếc túi thơm tôi tự làm thật ra rất đắt hàng.

Chỉ là ngày thường việc đồng áng quá nhiều, tôi không có thời gian làm.

Những lần hiếm hoi làm được, đều đưa hết cho hai cha con họ.

Kỷ Thừa Tự vẫn nhìn tôi, dường như vẫn chưa tin lời tôi.

Cho đến khi Kỷ Hạo vui vẻ kéo An Nhược Vũ chạy vào.

“Ba ơi, chúng ta mau đi thôi!”

An Nhược Vũ lấy khăn tay ra lau mồ hôi cho nó: “Nhìn con kìa, vui đến mức chạy toát cả mồ hôi rồi.”

Kỷ Thừa Tự bế nó lên: “Nói tạm biệt mẹ đi.”

Kỷ Hạo vẫn còn giận dỗi, quay đầu không nhìn tôi.

Tôi nhìn chằm chằm vào chiếc khăn tay, bỗng lên tiếng: “Trả cho tôi.”

6

An Nhược Vũ sững lại: “Cái gì?”

“Chiếc khăn tay tôi thêu, trả cho tôi.”

An Nhược Vũ cười hơi khinh khỉnh: “Cái này mang vào thành phố đúng là cũng khiến người ta cười thật. Nếu chị Lâm Tuệ không nỡ, thì trả chị vậy.”

Hồi đó cô ta cứu Kỷ Hạo, tôi chẳng có gì quý giá để tặng, nên đã thêu chiếc khăn này.

Thêu hai mặt.

Con bướm trên đó ai nhìn cũng khen sống động như thật.

Đôi cánh lấp lánh đổi sắc.

Tôi đã bán một củ nhân sâm già cất giữ nhiều năm để mua loại chỉ rất tốt.

Trên mặt Kỷ Hạo lộ ra vẻ chán ghét.

Biểu cảm như vậy, cả kiếp trước lẫn kiếp này tôi đã thấy vô số lần.

Tôi biết, nó chê tôi làm nó mất mặt.

Hai cha con họ vốn hào phóng, hôm nay mượn đồ của ai, cũng ngại mở miệng đòi lại.

Kỷ Hạo muốn mời bạn ăn kẹo, Kỷ Thừa Tự muốn đóng tiền học thay cho học sinh nghèo.

Chỉ có tôi một đồng cũng bẻ làm hai mà tiêu, chuyện gì cũng so đo.

Vì thêm được một hào tiền bán trứng mà tranh cãi đỏ cả mặt.

An Nhược Vũ thì khác.

Cô ta nói năng nhẹ nhàng, với ai cũng không bao giờ to tiếng.

Lương có thể đem hết đi lấy lòng Kỷ Hạo, mua cho nó những thứ tôi tuyệt đối không mua.

Lâu dần, Kỷ Hạo khó tránh khỏi thân thiết với cô ta hơn.

Mỗi khi tôi tỏ ra không khách khí với An Nhược Vũ, Kỷ Thừa Tự cũng bắt đầu bênh cô ta.

Dạ dày Kỷ Hạo không tốt, tôi không cho nó ăn kem.

An Nhược Vũ lén mua cho nó.

Sau đó quả nhiên tiêu chảy đến suýt mất nước.

An Nhược Vũ đỏ mắt tự trách, nức nở: “Đều tại em không tốt.”

Tôi vừa định nổi giận, Kỷ Thừa Tự đã nói: “Nhược Vũ cũng là có ý tốt.”

“Không trách cô ấy.”

Xem ra họ đúng là cùng một kiểu người.

Những toan tính tằn tiện của tôi, thật ra chẳng có ý nghĩa gì.

Kỷ Thừa Tự sinh ra trong nhung lụa, ở bên anh thì vốn dĩ không cần phải tính toán.

Thảo nào anh không muốn mang tôi theo.

7

Ra khỏi cửa, Kỷ Thừa Tự bỗng phát hiện gà vịt trong sân đều không thấy đâu.

“Mấy con gà vịt đâu rồi? Trước kia em quý chúng nhất mà?”

Tôi dĩ nhiên quý.

Trứng gà trứng vịt bán được tiền, giúp nhà tôi ăn được nhiều thịt hơn.

Nhưng Kỷ Thừa Tự không thích.

Cái phong nhã trong xương khiến anh không chịu nổi mùi phân gia cầm, anh thích kiểu sân vườn như của An Nhược Vũ hơn.

Trồng vài luống hoa cỏ.