Hạ Chinh đang chống đẩy. Nhịp độ đều đặn như máy đập nhịp, đúng 4 rưỡi sáng, sét đánh cũng không thay đổi.

8

Kỳ nghỉ đã qua một nửa.

Vào ngày thứ mười, trước cửa tiệm đỗ một chiếc xe Jeep quân sự.

Từ trên xe bước xuống là anh chàng đầu trọc hô “chào chị dâu” đầu tiên hôm nọ, Hạ Chinh gọi cậu ta là lão Hứa.

Lão Hứa nhìn thấy tôi, trước tiên cười hắc hắc hai tiếng, sau đó đứng nghiêm chào, “Chị dâu, trong trung đoàn có việc gấp, cần tìm Tiểu đoàn trưởng.”

Hạ Chinh từ bếp bước ra, nhìn thấy lão Hứa, sắc mặt liền thay đổi.

Bọn họ ra ngoài tiệm nói chuyện khoảng 5 phút.

Tôi không nghe được nội dung, nhưng thấy nét mặt Hạ Chinh ngày càng sầm xuống.

Lúc quay vào, Hạ Chinh nhìn tôi im lặng một lúc.

“Sao thế?”

“Cấp trên có nhiệm vụ, bắt anh phải về sớm.”

Tim tôi hẫng đi một nhịp.

“Khi nào đi?”

“Ngày kia.”

Ngày kia.

Nghĩa là anh chỉ còn lại hai ngày.

Chiều hôm đó quán mì đóng cửa sớm.

Hạ Chinh đưa tôi đến một hồ chứa nước ở ngoại ô Hạc Thành.

Chính là cái gọi là “câu cá” — ba năm trước chúng tôi quen nhau trên diễn đàn câu cá cũng là vì trò này.

Anh lấy từ trong xe Jeep ra hai cần câu gấp gọn, đưa cho tôi một cái.

Tôi không biết câu cá, nhưng ngồi trên bãi cỏ ven hồ nhìn mặt nước, bỗng nhiên cảm thấy những đoạn hội thoại trên diễn đàn ba năm trước đều trở nên chân thực.

“Anh còn nhớ lần đầu tiên chúng ta chat về chuyện gì không?” Tôi hỏi.

“Nhớ chứ. Em hỏi câu cá diếc dùng mồi gì là tốt nhất.”

“Anh bảo dùng giun đất trộn bột mì.”

“Em bảo em sợ sâu bọ.”

Tôi mỉm cười.

Anh nhìn chăm chăm mặt nước, phao câu bất động.

“Tần Lộc.”

“Vâng.”

“Công việc của anh không thể kể chi tiết được, nhưng em cần phải biết một chuyện — khi anh làm nhiệm vụ rất có thể sẽ mất liên lạc, không phải vài ngày, mà có khi là vài tháng.”

“Em biết.” Trước đây vẫn thường xuyên như vậy mà.

“Nhưng trước đây em không biết anh làm nghề gì, em nghĩ anh là nhân viên kiểm lâm, mất liên lạc em có thể nghĩ là anh ở trong rừng mất sóng. Còn bây giờ em biết rồi, mất liên lạc có ý nghĩa thế nào, chắc em cũng hiểu.”

Điều anh muốn nói là sinh tử.

Tôi im lặng.

“Anh hỏi em một lần, em hãy trả lời anh nghiêm túc.” Anh thu lại ánh mắt, quay sang nhìn tôi, “Em có chấp nhận được không?”

Tôi nhìn vào mắt anh.

Trong đôi mắt ấy không có sự lạnh lẽo như lúc đối đầu với Mã Thủ Minh, cũng không có vẻ điềm nhiên như lúc nấu mì xắt rau hàng ngày. Có một thứ mà tôi chưa từng nhìn thấy ở anh.

Đó là sự bất an.

Người đàn ông chưa từng nao núng trước bất kỳ điều gì này, khi hỏi tôi câu đó, lại mang theo sự bất an.

“Hạ Chinh.”

“Ừ.”

“Em mở quán mì 5 năm, điều em sợ nhất không phải là ế khách, không phải người ta đến quậy phá, cũng không phải một mình khiêng vác đồ đạc. Điều em sợ nhất là lúc 2 giờ đêm cái tủ đông bị hỏng, bên ngoài thì mưa to gió lớn, em ngồi chồm hổm dưới đất một mình không biết phải làm sao.”

Anh không nói gì.

“Và rồi cuộc gọi của anh tới. Anh dạy em sửa suốt 40 phút đồng hồ.”

“Sau đó cái tủ đông ấy còn hỏng thêm hai lần nữa.”

“Đúng, và lần nào anh cũng nhấc máy.”

Tôi đặt cần câu xuống bãi cỏ bên cạnh.

“Em không sợ phải đợi anh. Em chỉ sợ có một ngày anh đột nhiên không còn gọi điện thoại tới nữa. Nhưng em cũng sẽ không vì sợ mà nói rằng em không chấp nhận.”

Anh nhìn tôi rất lâu.

Rồi anh tháo sợi dây chuyền mảnh trên cổ mình xuống. Trên dây treo hai thứ, một là thẻ quân nhân, một là vỏ đạn.

Anh gỡ vỏ đạn ra khỏi dây chuyền, đưa cho tôi.

“Đây là vỏ đạn trong lần thực chiến đầu tiên của anh. Giữ lấy nhé.”

Tôi siết chặt trong tay, vẫn còn vương hơi ấm của anh.

“Nếu như quá 6 tháng mà anh không có bất kỳ tin tức gì…”

“Đừng nói nữa.” Tôi ngắt lời anh.

Anh hơi khựng lại.

“Em nói em không sợ rồi. Anh đừng có tự lập di chúc cho mình nữa đi.”