Hóa ra, nói rõ ràng mọi chuyện, lại là cảm giác này. Không phải để cầu xin sự tha thứ, cũng không phải để thỏa mãn thú tính trả thù, mà chỉ đơn thuần, là vẽ một dấu chấm hết cho mối quan hệ méo mó suốt bảy năm qua.
Không biết bao lâu sau, tiếng khóc của anh dần dứt.
Anh ngẩng đầu lên, gương mặt tuấn tú ấy đầy rẫy nước mắt, thê thảm khôn cùng.
“Hi Hi…” Anh khản giọng gọi tên thân mật của tôi, “Anh xin lỗi… anh xin lỗi…”
Một tiếng “Hi Hi”, cách biệt bảy năm trời, tựa như kiếp trước kiếp này.
Tôi lắc đầu.
“Phương Nghiên Nam, giữa chúng ta, từ lâu đã không còn ai đúng ai sai nữa rồi.” Tôi nhìn anh, chậm rãi rành rọt từng chữ, “Mọi chuyện qua rồi.”
“Không thể qua được!” Anh bật dậy, vài bước vọt tới bên giường, đầu gối mềm nhũn, cứ thế mà quỳ xuống. Anh nắm lấy tay tôi, đôi bàn tay lạnh buốt, run rẩy kịch liệt.
“Hi Hi, chúng ta làm lại từ đầu, được không? Anh sẽ đem mọi thứ tốt nhất cho em, anh đưa em đi tìm bác sĩ giỏi nhất thế giới, chúng ta nhất định sẽ chữa khỏi bệnh…”
“Phương Nghiên Nam.” Tôi rút tay về, giọng điệu không gợn chút sóng tăm, “Quá muộn rồi.”
Anh ngây đờ người ra.
“Bác sĩ nói, tôi nhiều nhất chỉ còn ba tháng.” Tôi nhếch miệng, nhoẻn nụ cười thực sự đầu tiên trong suốt những ngày qua, “Tôi muốn yên yên tĩnh tĩnh đi nốt đoạn đường cuối cùng này.”
“Tôi xin anh, buông tha cho tôi đi.”
Sự bình thản của tôi, trở thành cọng rơm cuối cùng đè sập anh. Ánh sáng trong đôi mắt anh, hoàn toàn vụt tắt.
Anh quỳ ở đó, như một bức tượng đá bị gió phong hóa, rất lâu rất lâu, mới rặn ra được một chữ từ cổ họng.
“… Được.”
Ba ngày sau, Giang Thừa Lâm đến đón tôi xuất viện.
Phương Nghiên Nam không xuất hiện, chỉ sai trợ lý Tiểu Trần đưa đến một tờ giấy ly hôn đã ký sẵn tên, và một chiếc thẻ đen không ghi danh.
Tôi nhận lấy tờ giấy ly hôn, còn thẻ đen thì trả về nguyên vẹn.
Giang Thừa Lâm sắp xếp cho tôi ở một căn biệt thự nhỏ vùng ngoại ô, nơi đó có một khu vườn rất rộng, trồng đủ các loại hoa. Anh ấy nói, khi còn sống, mẹ tôi thích nhất là những loài hoa này.
Sức khỏe của tôi yếu đi từng ngày, phần lớn thời gian đều chìm vào hôn mê.
Thỉnh thoảng tỉnh táo, Giang Thừa Lâm sẽ đẩy xe lăn cho tôi ra vườn phơi nắng. Anh không nhắc về quá khứ nữa, cũng chẳng đả động đến tương lai, chỉ bầu bạn bên tôi, kể dăm ba câu chuyện vui từ thuở bé.
Anh nói, năm tôi ba tuổi, anh giật kẹo mút của tôi, bị tôi cầm gậy rượt đánh chạy dọc nửa con phố.
Anh nói, năm tôi bảy tuổi, lần đầu tiên tập đi xe đạp bị ngã trầy đầu gối, anh cõng tôi về nhà, bị tôi khóc ướt đẫm nửa bên áo sơ mi.
Anh nói, năm tôi mười tám tuổi, trong tiệc sinh nhật có một gã con trai định chuốc rượu tôi, bị anh một đấm đánh văng ra ngoài.
Tôi vừa nghe vừa cười, nhưng khóe mắt lại từ từ ươn ướt.
Hóa ra, ở những nơi tôi không hề hay biết, cũng từng có một người âm thầm bảo vệ tôi nhiều năm đến thế.
“Thừa Lâm,” tôi tựa lưng vào xe lăn, giọng nhẹ bẫng như một chiếc lông vũ, “Cảm ơn anh.”
Anh ngồi xổm xuống, tém lại tấm chăn trên người tôi, viền mắt đỏ hoe: “Cô ngốc, khách sáo với anh làm gì.”
Tôi moi từ trong túi ra sợi dây chuyền Aquamarine, đưa cho anh.
“Cái này, giúp em trả lại cho anh ta.”
Anh im lặng nhận lấy.
Chiều hôm đó, tôi ngủ một giấc thật dài, và có một giấc mơ rất sâu.
Trong mơ, tôi quay về dưới tán cây long não thời đại học.
Nắng chiều ấm áp vô cùng, anh mặc chiếc áo sơ mi trắng, tựa vào gốc cây đọc sách. Tôi từ phía sau bịt mắt anh lại, anh cười bắt lấy tay tôi, xoay người ôm bổng tôi vào lòng.
Anh nói: “Thẩm Hi, đợi sau này anh có tiền, sẽ mua cho em một hòn đảo trồng đầy hoa hồng.”
Tôi đáp: “Em chẳng thèm hòn đảo nào đâu, em chỉ cần anh thôi.”

