Nhưng sau sự náo nhiệt ấy, vấn đề thực tế lại bày ra trước mắt.
Học phí của Thanh Hoa, cộng thêm phí ký túc xá, tiền sách vở, riêng năm đầu đã gần một vạn tệ, còn cả sinh hoạt phí của tôi khi lên Bắc Kinh đi học, lặt vặt cộng lại, ít nhất cũng phải hai vạn tệ.
Hai vạn tệ, ở cái làng nghèo của chúng tôi vào năm 2010, quả thực là một con số trên trời.
Sau khi ba tôi qua đời, trong nhà vốn chẳng có mấy đồng tích góp, mấy năm nay mẹ tôi uống thuốc, tôi đi học, sớm đã đào rỗng đáy nhà, còn nợ họ hàng mấy nghìn tệ bên ngoài. Mẹ tôi lục tung hết số tiền trong nhà ra, ngay cả tiền lẻ cũng tính vào, tổng cộng vẫn chưa đến ba nghìn tệ.
Mẹ tôi lại gấp đến khóc, ngày nào cũng ra ngoài tìm họ hàng vay tiền, nhưng nhà nào trong thôn cũng sống chật vật, chẳng ai lấy ra nổi nhiều tiền như vậy. Có họ hàng còn nói mát: “Một đứa trẻ nhà quê, học nhiều thế để làm gì? Thà sớm ra ngoài đi làm kiếm tiền còn hơn, tốt nghiệp Thanh Hoa thì đã sao? Chẳng phải vẫn đi làm thuê cho người ta thôi à?”
Mẹ tôi chạy vạy suốt mấy ngày trời mà cũng chỉ vay được hơn một ngàn tệ. Tối hôm đó, bà ngồi cạnh tôi, xoa đầu tôi rồi nức nở: “Lai Hỉ à, hay là… mình không học nữa con nhé? Mẹ vô dụng, không lo nổi tiền, mẹ có lỗi với con, có lỗi với bố con…”
Nhìn mái tóc điểm bạc và đôi bàn tay nứt nẻ của mẹ, tim tôi đau thắt lại như có dao đâm. Tôi cắn răng bảo: “Mẹ, không sao đâu, không học nữa thì thôi ạ. Mai con lên huyện tìm việc làm, kiếm tiền lo cho gia đình.”
Đúng lúc ấy, dì cả đẩy cửa bước vào.
Hóa ra nãy giờ dì đứng ngoài cửa và đã nghe hết cuộc trò chuyện của hai mẹ con. Khuôn mặt dì căng lại, bước tới trước mặt mẹ tôi, nói: “Tú Mai, em đang nói cái thứ lời lẽ ngớ ngẩn gì vậy? Lai Hỉ đậu Thanh Hoa là chuyện vui tày đình, sao có thể nói không đi là không đi được? Việc học này, nhất định phải tiếp tục!”
Mẹ tôi khóc nấc lên: “Chị ơi, nhưng tiền đâu ra bây giờ? Hai vạn tệ lận, chị em mình biết xoay xở ở đâu?”
Dì cả vỗ ngực quả quyết: “Chuyện tiền nong em không cần bận tâm, cứ để đó chị lo. Dù có phải bán sạch sành sanh nhà cửa, chị cũng phải lo đủ tiền học phí cho thằng Lai Hỉ!”
Đêm hôm đó, dì cả không về mà ở lại nhà tôi suốt sáng. Nửa đêm tỉnh dậy đi uống nước, tôi vẫn thấy dì ngồi trên ghế ở gian nhà chính. Dưới ánh đèn leo lét, dì hí hoáy ghi chép, tính toán xem đồ đạc trong nhà bán đi thì gom được bao nhiêu tiền.
Sáng sớm hôm sau, dì tức tốc về làng bên, bắt đầu bán tháo đồ đạc trong nhà.
Đầu tiên, dì nhượng lại mấy sào ruộng cho người cùng làng, cầm một cục được năm ngàn tệ. Sau đó, dì bán hết lúa gạo, lợn gà, rồi cả những món đồ nội thất có giá trị, gom thêm được hơn ba ngàn tệ nữa.
Nhưng chừng đó tiền cộng lại cũng chưa tới một vạn tệ, vẫn còn thiếu một khoản lớn.
Tôi cứ tưởng dì đã hết cách, nhưng không ngờ, dì đưa ra một quyết định khiến tất cả mọi người đều ngỡ ngàng — dì quyết định bán chiếc máy cày, và cả căn nhà cổ mà dì đã gắn bó cả đời.
Tin tức lan ra, dân làng ai cũng xúm vào khuyên can: “Tú Liên, bà điên rồi sao? Chiếc máy cày là cần câu cơm, căn nhà là gốc gác của bà. Bà bán hết đi rồi mẹ con bà cùng Tiểu Yến sau này ở đâu? Lấy gì mà sống?”
Chị họ của dì cả, tức là dì họ của tôi, cũng mắng thẳng mặt: “Mày có bị ngốc không hả? Đó là con trai của em gái mày chứ có phải con ruột đẻ ra đâu. Mày vì nó mà bán cả nhà cửa, sau này mày già cả rồi ai lo cho mày?”
Nghe vậy, dì cả chỉ mỉm cười nhẹ, đáp: “Lai Hỉ là đứa cháu em nhìn nó lớn lên từ bé, có khác gì con ruột em đâu. Thằng bé có chí khí, không thể vì chữ tiền mà lỡ dở cả một đời được. Đời em đến đây coi như xong, nhưng Lai Hỉ thì khác, nó có thể bước ra khỏi cái vùng quê nghèo này, sau này sẽ làm nên chuyện lớn. Chỉ cần nó được đi học đàng hoàng, chút khổ cực này của em có đáng là bao?”
Chị họ Lưu Yến của tôi lúc bấy giờ vừa thi đậu trường cấp 3 trên huyện, thành tích cũng rất xuất sắc. Biết mẹ định bán cả nhà lẫn máy cày để dồn hết tiền cho tôi đi học, chị lén nói với dì cả rằng chị không muốn đi học nữa, chị muốn đi làm thuê kiếm tiền.
Ban đầu dì cả kiên quyết không chịu, nhưng chị họ vừa khóc vừa nài nỉ: “Mẹ, nhà mình nông nỗi này rồi, con còn tâm trí đâu mà học tiếp nữa? Em trai sắp lên Bắc Kinh học Thanh Hoa, đó là chuyện hệ trọng vô cùng, con làm chị cũng phải có trách nhiệm góp sức. Con đi làm, mỗi tháng đều kiếm được tiền, vừa đỡ đần tiền học cho em, vừa phụ mẹ lo liệu cuộc sống gia đình.”
Dì cả ôm chầm lấy chị họ, khóc suốt cả một đêm. Ngày hôm sau, bà đồng ý chuyện chị họ bỏ học.
Nhiều năm sau, tôi mới biết chuyện này. Tôi mới biết, việc tôi có thể đến Thanh Hoa học không chỉ là nhờ dì cả bán hết gia sản, mà còn nhờ chị họ tôi từ bỏ giấc mơ học hành của mình, dùng tuổi thanh xuân của cô ấy để trải đường cho tôi.
Chẳng bao lâu sau, dì cả bán luôn chiếc máy kéo. Chiếc máy kéo đó là thứ duy nhất mà dượng tôi để lại năm xưa, cũng là công cụ kiếm tiền duy nhất của nhà dì cả. Dì cả lái nó mười mấy năm, giữ gìn rất tốt, vậy mà vì cần bán gấp, chỉ bán được tám nghìn tệ.
Mấy ngày sau nữa, dì cả cũng bán luôn ngôi nhà cũ mà bà đã sống cả đời. Đó là căn nhà bà và dượng tôi cùng dựng lên từng viên gạch, từng mảnh ngói khi mới cưới, là nhà của bà, là gốc rễ của bà. Ngày bán nhà hôm đó, dì cả đứng rất lâu trong sân viện trống rỗng, khóc rất lâu, nhưng vừa quay đầu đã nhét toàn bộ mười hai nghìn tệ tiền bán nhà vào tay tôi.
Cộng với số tiền trước đó mua đồ, dì cả tổng cộng đưa cho tôi hai mươi tám nghìn tệ. Bà bọc số tiền ấy trong khăn tay, gói thật chặt rồi đưa vào tay tôi, nói: “Lai Hỷ, cầm lấy, tiền học đủ rồi, tiền sinh hoạt cũng đủ rồi. Đến Bắc Kinh rồi, đừng để bản thân chịu thiệt, ăn ngon mặc tốt, học hành tử tế, đừng lo cho nhà, đã có dì cả.”
Tôi cầm túi tiền ấy, nặng trĩu trong tay, mỗi tờ tiền đều thấm mồ hôi của dì cả, đều mang theo tâm huyết của dì cả. Tôi “bịch” một tiếng quỳ sụp trước mặt dì cả, dập đầu ba cái thật vang, khóc nói: “Dì cả, ân tình của dì, cả đời này con cũng không trả hết được! Sau này nếu con có tiền đồ, nhất định con sẽ hiếu kính dì thật tốt, lo cho dì dưỡng lão đến cuối đời!”
Dì cả vội vàng đỡ tôi dậy, lau nước mắt cho tôi, nói: “Con ngốc, còn nói trả với không trả gì chứ? Con là cháu của dì, dì giúp con là phải. Con chỉ cần học hành tử tế, sau này trở thành người có ích cho xã hội, dì cả đã thấy mãn nguyện rồi.”
Sau khi bán nhà và bán máy kéo, dì cả và chị họ chuyển vào cái nhà kho bỏ hoang ở đầu thôn. Cái kho đó đã lâu không ai dùng, gió lùa bốn phía, mái nhà cũng thủng mấy lỗ, mùa hè thì dột mưa, mùa đông thì gió rét lùa vào. Dì cả và chị họ bèn dùng bạt nhựa vá những lỗ thủng trên mái, lấy bùn trét kín các khe nứt trên tường, dựng một cái giường đất trong kho, đặt thêm bếp lò, thế là tạm coi như nhà.
Nhưng những chuyện này, dì cả chưa từng kể với tôi. Mỗi lần gọi điện cho tôi, bà chỉ nói nhà vẫn ổn cả, bảo tôi cứ yên tâm học hành, đừng lo cho nhà.
3 Thanh Hoa viên, điều không dám quên
Cuối tháng tám năm 2010, tôi cầm số tiền dì cả chắp vá gom góp được, lên chuyến tàu đi Bắc Kinh. Dì cả, mẹ tôi và chị họ đều ra ga tiễn tôi.
Khi tàu bắt đầu chạy, tôi nhìn dì cả trên sân ga. Bà vẫy tay, trên mặt là nụ cười, nhưng đôi mắt lại đỏ hoe. Tàu càng đi càng xa, bóng dáng bà càng nhỏ dần, tôi áp mặt lên cửa sổ tàu, nước mắt không ngừng rơi.
Bắc Kinh rất lớn, Thanh Hoa viên cũng rất đẹp, nhưng với một đứa trẻ từ vùng núi nghèo như tôi mà nói, tất cả ở đây đều quá xa lạ, cũng khiến tôi tự ti vô cùng. Bạn học của tôi, rất nhiều người đều đến từ những thành phố lớn, họ nói tiếng Anh lưu loát, biết dùng máy tính, biết đàn piano, từng thấy rất nhiều thứ mà tôi nghe còn chưa nghe qua. Còn tôi, đến máy tính cũng chưa từng đụng vào mấy lần, tiếng phổ thông còn nói không chuẩn, mặc bộ quần áo mấy chục tệ dì cả mua cho, đứng giữa họ, chẳng khác nào một kẻ lạc loài.

