Giống như đứa con gái chẳng là cái thá gì tên Lâm Nhược Vãn này, rốt cuộc cũng có một chút xíu giá trị trên đời.
Cho dù cậu ấy không biết.
Trên đường về ký túc xá ngày hôm đó, tôi tạt vào tiệm văn phòng phẩm trước cổng trường, bỏ hai tệ mua một cuốn sổ tay bìa màu xanh nhạt.
Lật trang đầu tiên, tôi viết đoạn chữ đầu tiên của học kỳ này:
“Hôm nay, mình nạp 300 tệ vào thẻ sinh viên của Thẩm Diệc Xuyên. Cậu ấy đã mua một suất cơm trứng xào cà chua. Cậu ấy nhai rất chậm. Mình rất vui.”
Cuốn sổ tay này, sau đó đã đi theo tôi suốt bốn năm.
Về chuyện nạp tiền đó, sau này tôi mới hiểu vì sao mình lại đưa ra quyết định như vậy.
Nhà tôi không khá giả. Mẹ tôi một mình mở tiệm tạp hóa ở quê nuôi tôi ăn học đại học, cuộc sống cũng thắt lưng buộc bụng. Hồi nhỏ vào đợt lạnh nhất của mùa đông, không có tiền mua áo khoác phao, tôi mặc chiếc áo bông mẹ thức đêm khâu vội đến trường. Mấy bạn nữ cùng lớp chỉ trỏ cười nhạo tôi.
Về nhà tôi bảo mẹ rằng con không lạnh.
Nhưng tôi biết cái nghèo có mùi vị ra sao.
Vậy nên khi nhìn thấy cậu ấy gặm bánh mì, bán sách, rửa bát, trong lòng tôi rõ hơn ai hết, cậu ấy không phải đang tìm niềm vui trong gian khổ, cậu ấy đang liều mạng để sống sót.
Cậu ấy sẽ không nhận sự giúp đỡ của người khác.
Vậy thì tôi sẽ không để cậu ấy biết.
CHƯƠNG 7
Từ mùa đông năm nhất đến mùa hè năm tư đại học, trọn vẹn bốn năm.
Tôi biến việc lén nạp tiền vào thẻ cho cậu ấy thành một thói quen bí mật. Kỹ thuật ngày càng thuần thục.
Lúc cậu ấy đi vệ sinh, tôi lấy. Lần cậu ấy lên văn phòng tìm thầy, tôi lấy. Thi thoảng giả vờ rủ cậu ấy đi nhà ăn rồi giúp chiếm chỗ, nhân lúc cậu ấy xếp hàng, tôi chạy vội đến máy nạp tiền.
Số tiền nạp không cố định. Ba trăm. Có khi năm trăm. Thỉnh thoảng một ngàn.
Tùy thuộc vào tháng đó tôi kiếm được bao nhiêu.
Để có tiền nạp thẻ cho cậu ấy, năm nhất tôi làm gia sư, dạy kèm tiếng Anh cho ba học sinh cấp hai, thu nhập 1.500 tệ/tháng.
Năm hai bắt đầu làm thêm ở trạm chuyển phát nhanh của trường, phụ phân loại bưu kiện, làm một ngày được 60 tệ.
Năm ba tìm được công việc thực tập ở một studio quảng cáo ngoài trường, làm thiết kế poster, tháng kiếm hơn hai ngàn.
Tất cả thu nhập, trừ đi mức sinh hoạt phí tối thiểu của bản thân, phần còn lại đều chui vào thẻ ăn của cậu ấy.
Suốt bốn năm, tôi đã nạp chắc khoảng gần ba vạn tệ (30.000 NDT). Không tính ra con số chính xác. Không muốn tính. Cứ tính là lại chột dạ.
Đó là toàn bộ thanh xuân của Lâm Nhược Vãn. Hóa thành từng dòng chữ số trên máy nạp tiền, chảy vào cuộc sống của một người sẽ mãi mãi không thuộc về tôi.
Nhưng tôi cam tâm tình nguyện.
Ngoài việc nạp thẻ, tôi còn dùng nhiều cách khác để lén lút chăm sóc cậu ấy.
Mùa đông nhét túi chườm ấm vào ngăn bàn, bảo với cậu ấy là “Phòng hậu cần trường phát đấy, cậu chưa đi nhận à”.
Tuần thi cử thì nhét Snickers vào túi bên hông ba lô của cậu ấy, bảo “Siêu thị khuyến mãi nên mua thừa”.
Mấy ngày cậu ấy cảm cúm sổ mũi, tôi đặt gói thuốc cảm cạnh cốc nước của cậu ấy, lý do là “Bạn cùng phòng mua nhầm không dùng tới”.
Mỗi lần cậu ấy nói tiếng cảm ơn, mặt tôi lại nóng bừng.
“Không có gì, không có gì,” tôi nói năng lắp bắp.
Chuyện suýt bị phát hiện cũng từng xảy ra.
Học kỳ hai năm hai có một lần, cậu ấy đột ngột quay lại lớp lấy chìa khóa. Tôi vừa móc tấm thẻ từ trong ba lô cậu ấy ra, còn chưa kịp nhét vào túi mình.
Khoảnh khắc cậu ấy đẩy cửa bước vào, cả người tôi cứng đờ.
May mà tấm thẻ vừa vặn bị tôi đè dưới cuốn sách giáo khoa.
Cậu ấy lấy chìa khóa xong rồi đi luôn. Nhưng trước khi đi, cậu ấy đã liếc nhìn tôi một cái. Cái nhìn đó khiến tay tôi run rẩy suốt cả tiết học.
Còn một lần nguy hiểm hơn nữa.
Một buổi trưa kỳ một năm ba, cậu ấy cứ nhìn chằm chằm vào tấm thẻ sinh viên.
“Thẻ của tôi hình như có vấn đề.”
Hơi thở của tôi chậm đi nửa nhịp. “Vấn đề gì?”
“Số dư lúc nào cũng không khớp. Tôi đã tính xem mình nạp bao nhiêu, tiêu bao nhiêu, nhưng số dư lúc nào cũng nhiều hơn một khoản so với tính toán.”
Cậu ấy cau mày: “Cậu nói xem có phải hệ thống bị lỗi không?”
“Chắc là vậy đấy.” Tôi cố gắng giữ cho giọng mình bình tĩnh, “Nghe nói năm ngoái trường mới thay hệ thống nạp tiền, một số thẻ cũ bị lỗi dữ liệu.”
“Lỗi á?” Cậu ấy liếc nhìn tôi.
“Đúng, là cái đó… sai số hệ thống. Thường thấy lắm.”
Cậu ấy nghĩ ngợi một lát, rồi gật đầu.
“Có lẽ vậy.”
Nhưng tôi biết, cậu ấy không hoàn toàn tin. Chỉ là cậu ấy chọn không truy cứu.
Suốt bốn năm này, Tiền Mạn Ni chưa bao giờ để yên.
Cô ta thay đổi cách thức. Không trực tiếp đe dọa tôi nữa, mà liên tục dùng cách “vô tình” mỉa mai tôi ở đủ mọi hoàn cảnh.
Lúc đi ăn liên hoan thì bảo: “Nhược Vãn sao lại mặc cái áo này thế? Tháng trước chẳng phải mặc cái này rồi sao?”
Trước giờ học thì lớn tiếng nói chuyện với Tưởng Lộ: “Nghe bảo có người năm hai rồi vẫn phải đi làm gia sư đấy, tội nghiệp thật.”
Tôi coi như không nghe thấy.
Đào Ngữ Yên tức giận mắng: “Cô ta bị bệnh à!”
“Đừng để ý cô ta,” tôi nói.

